mua cua cốm ở đâu tphcmmẹo kinh doanh nhà hàngchiến thuật kéo khách của nhà hàngmón lời 0đ của nhà hàng

Không mặc nhiên coi chưa có sổ đỏ là đất lấn chiếm

Chưa có sổ đỏ không đồng nghĩa với lấn chiếm đất. Người dân cần được xem xét quyền sử dụng đất dựa trên nguồn gốc, quá trình sử dụng và quy định pháp luật, thay vì chỉ nhìn vào tình trạng giấy tờ.

Không mặc nhiên người chưa có sổ đỏ là lấn chiếm được - Ảnh 1.

Người dân làm thủ tục hành chính liên quan đất đai tại bộ phận một cửa ở phường Cam Ranh (Khánh Hòa) - Ảnh: XUÂN HOÁT

Ngày 22-10, Tuổi Trẻ đăng tải bài viết Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh không thể chỉ vì người dân chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà mặc nhiên coi họ là người lấn chiếm hoặc sử dụng đất trái pháp luật.

Ý kiến của Chủ tịch Quốc hội "chạm" đến quyền lợi thiết thực của nhiều gia đình. Có người sử dụng đất qua nhiều thế hệ, giấy tờ cũ bị thất lạc, hồ sơ chưa hoàn chỉnh hoặc đất do cha mẹ để lại nhưng chưa làm thủ tục thừa kế. Những trường hợp ấy cần được xác minh cụ thể, không thể đánh đồng với hành vi lấn, chiếm đất.

Chưa có sổ đỏ, chưa thể kết luận vi phạm

Điều 11 Luật Đất đai năm 2024 nghiêm cấm hành vi lấn đất, chiếm đất. Nhưng không có sổ đỏ và lấn chiếm đất là hai vấn đề khác nhau. Muốn xác định có vi phạm hay không, cơ quan chức năng phải làm rõ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng, thời điểm phát sinh và các chứng cứ liên quan.

Điều 137, 138, 139 và 140 Luật Đất đai năm 2024 quy định những trường hợp khác nhau để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 137 quy định về cấp giấy chứng nhận cho người có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Vì vậy, người dân nên lưu giữ và cung cấp các giấy tờ cũ, hồ sơ giao đất, tài liệu kê khai, đăng ký hoặc chứng cứ liên quan để cơ quan có thẩm quyền xem xét theo luật.

Điều 138 mở ra khả năng cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định nhưng không có giấy tờ, nếu đáp ứng các điều kiện luật định. 

Điều đó có nghĩa không có giấy tờ không đồng nghĩa với việc chắc chắn không được cấp sổ đỏ.

Tuy nhiên, sử dụng đất lâu năm cũng không tự động làm phát sinh quyền được công nhận.

Điều 139 quy định việc xử lý một số trường hợp sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 1-7-2014. Cơ quan chức năng phải xác định đúng hành vi và điều kiện áp dụng, không thể chỉ dựa vào việc chưa có sổ đỏ để kết luận người dân vi phạm.

Điều 140 quy định việc xem xét cấp giấy chứng nhận đối với đất được giao không đúng thẩm quyền khi đáp ứng các điều kiện tương ứng. Mỗi trường hợp phải được đánh giá theo đúng quy định, không thể áp dụng một cách máy móc.

Các quy định này không bảo đảm rằng mọi trường hợp đều được cấp sổ đỏ. Nhưng cũng đòi hỏi cơ quan giải quyết phải xác minh đầy đủ và áp dụng đúng quy định trước khi công nhận hoặc bác bỏ quyền sử dụng đất.

Bảo vệ quyền lợi bằng chứng cứ và thủ tục đúng luật

Người dân có đất chưa có sổ đỏ nên chủ động thu thập giấy tờ về nguồn gốc đất, giấy tờ mua bán, chuyển nhượng, thừa kế, biên lai thực hiện nghĩa vụ tài chính, hồ sơ kê khai và các tài liệu thể hiện quá trình sử dụng đất.

Những chứng cứ này cần được đánh giá cùng các điều kiện pháp luật, không phải tài liệu nào cũng tự nó đủ để chứng minh quyền sử dụng đất.

Trường hợp nếu hồ sơ chưa đủ điều kiện, người dân nên yêu cầu cơ quan giải quyết hướng dẫn bổ sung và trả lời rõ căn cứ pháp lý. Khi không đồng ý với quyết định hoặc cách giải quyết, người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định nếu đủ điều kiện.

Đối với đất do người thân qua đời để lại cần xem xét cả pháp luật đất đai và Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định di sản, người thừa kế và quyền của từng người. Không thể chỉ vì chưa có sổ đỏ mà mặc nhiên bác bỏ quyền thừa kế; đồng thời cũng phải có căn cứ xác định quyền sử dụng đất thuộc di sản.

Khi Nhà nước thu hồi đất, điều kiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải được xem xét theo quy định áp dụng cho từng trường hợp. Chưa có sổ đỏ không đồng nghĩa đương nhiên mất mọi quyền lợi; nhưng sử dụng đất lâu năm cũng không tự động bảo đảm được bồi thường.

Người dân cần làm gì?

Người dân nên lập một bộ hồ sơ gồm đơn đề nghị hoặc hồ sơ cấp giấy chứng nhận, giấy tờ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, giấy tờ nhân thân, tài liệu về thừa kế hoặc chuyển nhượng, biên lai thực hiện nghĩa vụ tài chính, bản đồ, trích đo và các chứng cứ liên quan. Nên sắp xếp tài liệu theo thời gian, lập danh mục và giữ bản sao toàn bộ hồ sơ đã nộp.

Khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền, người dân nên nộp hồ sơ tại đúng nơi tiếp nhận, yêu cầu cấp giấy biên nhận và đề nghị trả lời bằng văn bản nếu hồ sơ bị từ chối, yêu cầu bổ sung hoặc phát sinh tranh chấp.

Văn bản trả lời cần nêu rõ căn cứ pháp lý, lý do giải quyết và hướng xử lý tiếp theo để người dân có cơ sở thực hiện quyền khiếu nại hoặc khởi kiện nếu cần.

Trong trường hợp có tranh chấp ranh giới, thừa kế, nguồn gốc đất hoặc hồ sơ có nhiều giấy tờ mâu thuẫn. Lúc này, người dân nên tìm đến luật sư, trợ giúp viên pháp lý hoặc tổ chức tư vấn pháp luật để được đánh giá chứng cứ và hướng dẫn thủ tục phù hợp.

Điều người dân cần được bảo đảm không phải là đương nhiên được cấp sổ đỏ, mà là quyền được xem xét công bằng, đúng pháp luật và có căn cứ rõ ràng.
Quản lý đất đai phải nghiêm minh với hành vi vi phạm, đồng thời không được biến việc thiếu giấy tờ thành lý do mặc nhiên phủ nhận quyền lợi hợp pháp của người dân.

Không mặc nhiên người chưa có sổ đỏ là lấn chiếm được - Ảnh 3.Siết chặt việc bán nhà ở xã hội sau 5 năm, không để bán tự do

Chủ tịch Quốc hội đề nghị siết chặt quy định chuyển nhượng nhà ở xã hội sau 5 năm theo hướng chỉ cho phép bán lại cho người đủ điều kiện mua nhà ở xã hội, không mở cửa cho thị trường tự do.